Chương 2
NGƯỜI B/án NGỰA
Tin người đàn ông nhặt được đứa trẻ do ngựa hoang nuôi từ trong rừng vừa lan truyền đã thu hút vô số dân làng hiếu kỳ đến xem.
Ông ta suy đoán khi sú/ng n/ổ, cô bé này đang cưỡi trên lưng ngựa hoang. Ngựa h/oảng s/ợ giương vó, ngả người ra sau khiến cô bé ngã xuống. Ngựa chạy mất, chân cô bé g/ãy xươ/ng, không thể chạy thoát, đành nằm lại hiện trường.
Người đàn ông trong rừng dùng cành cây nẹp chân cho cô bé, cõng lên khoang sau xe máy, chở về làng. Lang y đến khám, nói nuôi dưỡng hai tháng thì chân cô bé sẽ không sao. Ông ta nhận nuôi cô bé, nhưng cô bé không biết nói, cũng không ăn cơm, thấy cỏ khô thì nước dãi chảy không ngừng.
Đến đêm khuya, cô bé bắt đầu khóc, tiếng khóc càng lúc càng to, càng lúc càng thảm thiết. Theo tiếng khóc ấy, ngoài làng trong rừng cũng vọng lại tiếng ngựa hoang rên siết đ/au đớn. Có dân làng lanh lợi chạy ra đầu thôn, tìm lối mòn thú trong rừng giăng bẫy ngựa, kết quả đêm thứ hai đã bắt sống được một con ngựa lùn hoang.
Thế là dân làng lũ lượt kéo đến, bảo người đàn ông tìm cách bắt cô bé khóc.
Nếu ông ta không nỡ để cô bé khóc, dân làng cầm đuốc đến trước cửa nhà hú hét, bắt chước m/a kêu sói tru, khiến cô bé khóc thét không ngừng.
Hai năm này, dân làng không biết bắt sống bao nhiêu ngựa lùn hoang. Họ b/án ngựa cho thương nhân ngoài chợ, chia đều tiền lời cho cả làng. Nhưng người đàn ông chưa từng nhận được đồng nào, ông chỉ ở nhà dạy cô bé nói. Dù có dạy cách nào, hai năm trôi qua, cô bé chỉ phát ra tiếng nức nở vô nghĩa, thỉnh thoảng môi trên chạm môi dưới, vô thức thốt lên “ba ba” khiến ông vui mừng mấy ngày liền. Cô bé trong làng không có bạn, vì không biết nói, trẻ cùng trang lứa không chơi với cô, còn xem cô như quái vật.
Hễ có thời gian rảnh, cô bé lại bò lê trên đất quanh làng, đôi khi nhảy vài bước như thể một chú ngựa đang phi nước kiệu. Phải mất hai năm, người đàn ông mới dạy được cô bé cách ngồi trên yên sau của chiếc xe máy hai bánh.
Có thể bạn thích
Dân làng cũng nuôi ngựa, hầu như nhà nào cũng có, dù chỉ là giống ngựa lùn nhưng không phải loài hoang dã nên chẳng đáng giá bao nhiêu. Cô bé xem tất cả những chú ngựa nuôi trong làng như bạn bè. Khi rảnh rỗi, cô nằm dài trên bãi đất nện bên ngoài chuồng ngựa, miệng phát ra những tiếng “xè xè xè”, lũ ngựa lùn trong chuồng cũng đáp lại bằng âm thanh tương tự.
Sáu tháng trở lại đây, dù cô bé có khóc lóc thảm thiết đến mấy, dân làng cũng không bắt được thêm một con ngựa hoang nào. Có lẽ tất cả ngựa rừng trong khu rừng đã bị bắt sạch rồi chăng?
Làng bỗng chốc mất đi nguồn thu nhập ngoài luồng. Mấy năm qua, tiền b/án ngựa hoang ki/ếm được, ngoại trừ người đàn ông kia, dân làng ai cũng chia phần kha khá, nhà nhà xây được nhà mới, cả làng còn làm cả đường nhựa. Cũng vì có thể ki/ếm tiền từ việc b/án ngựa hoang, dân làng bỏ bê hết ruộng vườn. Có tiền ngoài dễ ki/ếm không mất sức, ai còn muốn một nắng hai sương đầu tắt mặt tối ngoài đồng? Huống chi thời buổi này, làm ruộng được bao nhiêu tiền?
Có người nghĩ ra, biết đâu trong rừng vẫn còn sót lại vài con ngựa hoang, chỉ là chúng thấy đồng loại bị bắt nhiều quá nên hình thành phản xạ có điều kiện, nghe tiếng khóc của cô bé cũng không dám đến gần làng nữa. Thế là lại có kẻ hung dữ xông vào nhà người đàn ông, trói cô bé lại, buộc một chân cô vào dây thừng rồi treo ngược cô trong rừng, thậm chí còn đào một cái hố lớn dưới chỗ cô bị treo. Dân làng hy vọng, lũ ngựa hoang còn sót lại chắc không nỡ nhìn cô ch** chứ? Nhưng chẳng có con ngựa nào mắc bẫy. Dù cô bé bị treo ngược trong rừng suốt hai ngày hai đêm, không có thức ăn nước uống, vẫn không con ngựa hoang nào xuất hiện.
Có lẽ lần này, trong rừng thực sự chẳng còn con ngựa hoang nào nữa.
NGỰA B/ệnh
Rừng già không còn bóng dáng những chú ngựa lùn hoang dã nữa, mấy lái buôn chuyên thu m/ua ngựa rừng kiên nhẫn chờ đợi thêm nửa năm, cuối cùng cũng rời khỏi nơi này.
Họ đi tới những vùng khác còn có thể m/ua được ngựa hoang.
Trên thị trường giờ chỉ còn những thương lái chuyên thu m/ua da ngựa, nhưng chỉ khi ngựa ch** họ mới thu được da nên việc buôn b/án cũng ế ẩm. Hơn nữa, da ngựa lùn nuôi trong làng chẳng đáng giá bao nhiêu, thế là dân làng mất luôn nguồn thu nhập không tốn sức lực.
Đến lúc này, dân làng mới hối h/ận, sao không nuôi nh/ốt lũ ngựa hoang ngày trước? Cho chúng sinh sản, nuôi ngựa con lớn rồi b/án, chẳng phải sẽ ki/ếm được nhiều tiền hơn sao? Tiếc là lúc đó chỉ nghĩ đơn giản là để cô bé khóc một hồi là bắt được ngựa, nên chẳng ai tính toán xa đến thế.
Có lẽ vì bị treo ngược trong rừng quá lâu, chân cô bé từng bị trói bằng dây thừng bắt đầu teo cơ. Lúc đó cô đã biết đi đứng thẳng người, nhưng giờ đây chỉ có thể khập khiễng lê bước quanh làng. Những đứa trẻ cùng trang lứa thấy cô liền ném đ/á, mấy đứa lớn hơn thì lấy tay quệt má chế nhạo, gọi cô là “đồ ngựa hoang đẻ”, “đồ con hoang chỉ có bố không có mẹ”, ngay cả người bố hiện tại cũng chẳng phải bố đẻ. Vốn dĩ đã ủ rũ, giờ cô bé càng trở nên âm u hơn. Cô vẫn nằm dài bên ngoài chuồng ngựa, trò chuyện với lũ ngựa lùn bằng những tiếng “xè xè xè”. Không ai biết cô và lũ ngựa nói gì với nhau, nhưng điều duy nhất mọi người nhận thấy là từ khi cô khập khiễng trở về từ rừng, lũ ngựa nuôi trong làng bắt đầu có biểu hiện bất thường.
Con ngựa nuôi đầu tiên có biểu hiện lạ là của kẻ đã treo cô bé lên cây. Sau khi “trò chuyện” xè xè với cô bé, con ngựa nhà hắn bắt đầu thở gấp, chảy nước mũi, mắt lờ đờ, bỏ ăn. Dù có cỏ khô bên cạnh, nó chỉ nhai vài miếng rồi nôn ra, kèm theo vô số bọt trắng. Chỉ hai ngày sau, con ngựa lùn đó ch** đói. Khi ngựa ch**, theo phong tục làng, da sẽ được l/ột b/án cho lái buôn, th!t thì c/ắt ra hầm thành nồi th!t ngựa kho cho cả làng cùng ăn.