Chương 20
“Chú ấy là người cứu mẹ phải không?”
Hoài Châu đáp thay: “Phải. Chú ấy là một người lính dũng cảm.”
Anh không vì quá khứ mà phủ nhận điều tốt của Lục Trầm. Đó là một trong những điều tôi trân trọng nhất ở anh.
Căn cứ thay đổi rất nhiều. Tòa nhà kỹ thuật cũ được sửa mới, hệ thống đường hầm gắn cảm biến an toàn, nhà khách năm xưa cũng đã thay biển.
Chủ nhiệm Cố sắp nghỉ hưu, vừa thấy hai đứa trẻ đã lấy hết bánh kẹo giấu trong ngăn bàn ra.
“Cuối cùng cũng dẫn các cháu về cho ông xem.”
Tiểu Nghi ngọt ngào gọi ông Cố. Tiểu Cảnh nghiêm túc hỏi ông có xe bọc thép thật không. Chưa đầy nửa giờ, hai đứa đã theo nhóm chiến sĩ trẻ đi tham quan sân huấn luyện.
Tôi đứng trong trung tâm mới, nhìn bản đồ số trải rộng cả bức tường. Hệ thống do nhóm tôi thiết kế có thể tự phát hiện truy cập bất thường, nhưng mọi quyết định quan trọng vẫn bắt buộc con người xác nhận.
Sau sự cố năm ấy, tôi luôn tin công nghệ tốt không phải công nghệ thay con người lựa chọn.
Nó phải giúp con người nhìn rõ hơn trách nhiệm của lựa chọn đó.
Buổi nghiệm thu kết thúc suôn sẻ.
Tối đến, đơn vị tổ chức liên hoan. Cô phát thanh viên cũ giờ đã là trưởng ban truyền thông, thấy tôi liền cười ngượng.
“Kỹ sư Giang, lần này tôi chỉ đọc tin chính thức, tuyệt đối không thêm chuyện tình cảm.”
Tôi bật cười: “Vậy là tốt.”
Một chiến sĩ mới tò mò hỏi: “Chị từng công tác ở đây thật sao? Nghe nói chồng chị là…”
Cô phát thanh viên lập tức bịt miệng cậu ta: “Chuyện riêng, không hỏi.”
Mọi người cười ầm.
Giữa bữa tiệc, điện ở hội trường đột nhiên tắt. Tôi còn chưa kịp phản ứng thì hàng loạt ngọn nến điện tử sáng lên.
Hai đứa trẻ đẩy một chiếc bánh ra, vừa đi vừa hát sinh nhật lệch nhịp.
Tôi nhìn lịch mới nhớ hôm đó lại là ngày 8 tháng 12.
Hoài Châu đứng sau bánh, đưa cho tôi một bó linh lan.
“Kỷ niệm hai năm hôn lễ, cũng là sinh nhật em.”
“Anh chuẩn bị từ bao giờ?”
“Không chỉ anh.”
Chủ nhiệm Cố cùng cả trung tâm đồng loạt vỗ tay. Trên màn hình lớn hiện một đoạn video do bố mẹ tôi gửi, sau đó là lời chúc của bạn bè ở Tổng bộ.
Tôi cười đến cay mắt.
Năm năm trước, cũng tại nơi này, ngày sinh nhật của tôi kết thúc bằng một tờ giấy ly hôn.
Bảy năm sau, nó được lấp đầy bởi tiếng cười.
Khi tôi thổi nến, Tiểu Nghi hỏi: “Mẹ ước gì thế?”
“Nói ra sẽ không linh.”
Tiểu Cảnh phản bác: “Bố bảo muốn gì phải nói thì người khác mới biết.”
Tôi nhìn Hoài Châu.
Anh nhướng mày như muốn nói con trai nói đúng.
Thế là tôi cúi xuống, nói với hai con: “Mẹ ước cả nhà mình luôn bình an. Nhưng nếu có chuyện không vui, chúng ta vẫn sẽ ở bên nhau.”
Tiểu Nghi nghiêm túc chắp tay: “Con đồng ý.”
Tiểu Cảnh cũng gật đầu: “Con sẽ bảo vệ em và mẹ. Bố tự bảo vệ bố.”
Hoài Châu bất mãn: “Tại sao không ai bảo vệ bố?”
Thằng bé suy nghĩ rồi chia cho anh một miếng bánh lớn hơn.
“Bố ăn nhiều cho khỏe.”
Tiếng cười lại vang lên.
Sau bữa tiệc, tôi và Hoài Châu đi bộ về nhà khách. Tuyết đầu mùa rơi mỏng, phủ trắng con đường.
Chính dưới mái hiên này năm xưa, tôi từng đứng một mình nghe người khác đoán mình đang chờ chồng cũ.
Tôi dừng lại nhìn khoảng sân.
Hoài Châu choàng khăn quanh cổ tôi, vẫn là động tác của nhiều năm trước.
Có thể bạn thích
“Lạnh à?”
“Không.”
“Đang nghĩ gì?”
“Nghĩ lần trước anh xuất hiện rất đúng lúc.”
Anh cười: “Không phải đúng lúc. Anh đã chờ ngoài cổng gần bốn mươi phút.”
Tôi ngạc nhiên: “Tại sao không vào?”
“Em bảo tiệc có thể kéo dài. Anh sợ vào làm ảnh hưởng công việc của em.”
“Vậy khi nào anh quyết định vào?”
“Tài xế nói thấy em đứng ngoài tuyết.”
Hóa ra cái gọi là xuất hiện đúng lúc chưa bao giờ là trùng hợp.
Là vì có một người luôn để ý tôi ở đâu, có lạnh không, có cần anh không.
Tôi kéo khăn của anh xuống, kiễng chân hôn lên môi.
“Tạ Hoài Châu.”
“Ừ?”
“Cảm ơn anh đã tới.”
Anh đặt trán lên trán tôi.
“Cảm ơn em đã đợi.”
Ở phía xa, hai đứa trẻ đang được ông bà dắt về nhìn thấy, lập tức che mắt rồi hé ngón tay nhìn trộm.
Tuyết rơi đầy trời, nhưng lần này tôi không còn đứng một mình.
NGOẠI TRUYỆN 1: LÁ THƯ KHÔNG GỬI
Nhiều năm sau, trong một đợt chỉnh lý hồ sơ, học viên của Lục Trầm tìm thấy một phong thư không đề địa chỉ trong ngăn bàn.
Lục Trầm nhận lại, ngồi một mình trong phòng làm việc đến khuya.
Lá thư được viết sau ngày anh xuất viện, nhưng chưa từng gửi.
“Giang Yên,
Anh đã viết ba lần rồi xé. Đây có lẽ là lần cuối.
Trước đây anh luôn nghĩ người rời đi là người tuyệt tình hơn. Sau này mới hiểu, có lẽ em đã ở lại quá lâu, lâu đến mức mọi lời muốn nói đều cạn trước ngày cầm đơn ly hôn.
Anh từng cứu em trong bão tuyết, đánh nhau vì em, thức bên giường bệnh của em. Anh dựa vào những việc đó để tin mình là một người chồng tốt. Nhưng anh quên mất hôn nhân không chỉ có những khoảnh khắc nguy hiểm để một người trở thành anh hùng.
Nó còn là hàng nghìn ngày bình thường.
Là nghe điện thoại khi em gọi. Là nhớ ngày sinh nhật. Là hỏi em có mệt không. Là nói rõ ràng với người khác rằng anh đã có vợ. Là không khiến em phải dùng một bình nước để đo vị trí của mình trong lòng chồng.
Anh đã làm được những việc lớn và thất bại ở tất cả những việc nhỏ.
Khi biết em hiến thận, phản ứng đầu tiên của anh là đau và hối hận. Nhưng giờ anh hiểu nếu chỉ vì quả thận ấy mà hối hận, anh vẫn đang cân đo sự hy sinh của em để định giá tình yêu. Kể cả em chưa từng hiến gì, chưa từng vượt đường tới thăm, chưa từng chờ anh, em vẫn xứng đáng được tôn trọng.
Anh từng ghét Tạ Hoài Châu vì anh ta có được cuộc đời lẽ ra có thể thuộc về anh. Sau đó anh nhận ra cuộc đời ấy không tự nhiên rơi vào tay anh ta. Anh ta đã xây nó cùng em bằng những điều anh từng xem nhẹ.
Anh không viết để xin cơ hội.
Anh chỉ muốn nói, lời chúc hôm ở bệnh viện là thật.
Chúc em hạnh phúc.
Không phải để anh bớt áy náy. Không phải để chứng minh anh đã buông. Chỉ vì em xứng đáng.
Lục Trầm.”
Anh đọc xong, gấp lá thư lại.
Ngoài cửa sổ học viện, nhóm học viên trẻ đang chạy đêm dưới mưa. Một cậu bị tụt lại, đồng đội phía trước quay lại kéo.
Lục Trầm khoác áo bước ra sân.
Anh không gửi lá thư.
Có những lời xin lỗi nói một lần là đủ. Lặp lại quá nhiều sẽ trở thành một cách buộc người bị tổn thương tiếp tục chứng kiến sự hối hận của mình.
Anh giữ nó để tự nhắc mình.
Sau này, trong mỗi buổi huấn luyện, anh luôn nói với học viên:
“Có thể quyết đoán ngoài chiến trường không có nghĩa các cậu sẽ tự nhiên biết cách yêu một người. Đừng mang thói quen ra lệnh về nhà. Đừng nghĩ im lặng là mạnh mẽ. Và đừng đợi mất đi rồi mới dùng cả đời để giải thích mình từng yêu.”
Đám học viên thường cười, hỏi có phải thầy từng bị người yêu bỏ không.
Anh không nổi giận.
“Phải. Vì tôi từng là một kẻ ngốc.”
Rồi anh thổi còi, bắt cả đội chạy thêm hai vòng vì dám tò mò chuyện riêng của giảng viên.
NGOẠI TRUYỆN 2: NGÔI NHÀ CÓ BỐN NGỌN ĐÈN
Năm Tiểu Cảnh và Tiểu Nghi mười tuổi, trường giao bài văn với đề tài “Nhà là gì?”.
Tiểu Cảnh viết rất ngắn:
“Nhà là nơi bố nấu món mặn, mẹ vẫn ăn. Là nơi em gái làm vỡ mô hình của con nhưng con chỉ giận một ngày. Là nơi mọi người cãi nhau xong không ai biến mất.”
Cô giáo đọc tới câu cuối thì lặng đi rất lâu, sau đó cho thằng bé điểm cao nhất lớp.
Tiểu Nghi lại viết bốn trang, kể từ ngày mẹ đi Bắc Cương, bố lái xe đón mẹ, chuyện cả nhà tổ chức hôn lễ trong tuyết, chuyện bố từng bị đá đè và mẹ từng bắt kẻ xấu bằng máy tính.
Con bé kết bài:
“Nhà con có bốn ngọn đèn. Nếu một ngọn tắt, ba ngọn còn lại sẽ sáng hơn để chờ.”
Tối đó, hai bài văn được dán trên tủ lạnh.
Hoài Châu đứng đọc rất lâu. Tôi thấy mắt anh đỏ, cố ý hỏi: “Ai khóc đấy?”
Anh quay mặt: “Khói bếp.”
“Anh đang đứng trước tủ lạnh.”
“Khói từ bếp bay sang.”
Tiểu Nghi chạy tới ôm chân bố: “Bố khóc thì cứ nói. Nhà mình muốn gì phải nói mà.”
Hoài Châu không cãi được, đành bế con lên.