“Điều quan trọng là người sống trong đó có quyền làm chủ cuộc đời và không gian của mình hay không.”
“Tôi muốn thiết kế những căn nhà dù chỉ ba mươi mét vuông, người ở bên trong vẫn cảm thấy đó hoàn toàn là thế giới của họ.”
Khán phòng vang lên tiếng vỗ tay.
Sau khi buổi lễ kết thúc, tôi nhận được một bó hoa.
Không có tên người gửi.
Chỉ có một tấm thiệp.
“Chúc mừng em. Anh xin lỗi vì đã hiểu quá muộn.”
Tôi nhận ra nét chữ của Cố Minh Hạo.
Tôi tháo tấm thiệp xuống.
Bó hoa được tặng cho cô nhân viên thực tập bên cạnh.
Cô bé vui vẻ hỏi:
“Giám đốc Hạ không thích hoa sao?”
“Tôi thích.”
“Nhưng bó này không thuộc về tôi.”
Sau đó, tôi nghe bạn bè chung kể lại cuộc sống của nhà họ Cố.
Cố Minh Hạo chuyển sang một bộ phận bình thường.
Thu nhập chỉ còn hơn chín nghìn tệ mỗi tháng.
Anh thuê một căn hộ hai phòng ngủ.
Mẹ chồng sống cùng anh.
Cố Nhã Kỳ và bốn đứa trẻ thuê nhà ở gần đó.
Tống Duy Thành sau khi giải quyết một phần nợ đã đề nghị ly h/ôn.
Anh ta nói không chịu nổi áp lực nuôi bốn đứa trẻ.
Cố Nhã Kỳ không đồng ý.
Hai người liên tục cãi nhau.
Mẹ chồng phải chạy qua chạy lại chăm sóc cháu.
Chưa đầy một năm, tóc bà bạc đi rất nhiều.
Có lần bà gặp một người quen cũ của tôi ngoài chợ.
Bà than thở:
“Nếu An Dao còn ở đây thì tốt.”
“Nó làm việc nhanh, chăm trẻ cũng cẩn thận.”
Người quen ấy hỏi:
“Trước đây bà đối xử tốt với cô ấy không?”
Mẹ chồng không trả lời được.
Cố Minh Hạo từng tới studio tìm tôi thêm một lần.
Anh không vào.
Chỉ đứng bên kia đường gần nửa tiếng.
Khi ấy tôi đang cùng đội ngũ chuẩn bị cho dự án mới.
Mọi người vừa đi vừa trao đổi phương án.
Tôi không nhìn thấy anh.
Sau này nhân viên lễ tân kể lại, tôi mới biết.
Tôi không hỏi thêm.
Những người đã rời khỏi cuộc đời tôi không cần được nhắc tới quá nhiều.
18
Hai năm sau ngày ly h/ôn, tôi nhận được một bưu kiện.
Bên trong là cuốn sổ cũ.
Đó là cuốn sổ tôi từng dùng khi mang th/ai.
Có thể bạn thích
Tôi ghi lại từng thay đổi nhỏ của đứa bé.
Ngày đầu tiên nghe tim th/ai.
Ngày tôi mua đôi tất trẻ em đầu tiên.
Tên gọi ở nhà mà tôi chưa từng nói với ai.
Cuốn sổ bị thất lạc sau khi tôi nhập viện.
Tôi từng nghĩ Cố Nhã Kỳ đã vứt nó đi.
Bên trong bưu kiện có một lá thư của Cố Minh Hạo.
Anh nói khi chuyển nhà mới tìm thấy cuốn sổ trong khe tủ.
Anh đã đọc hết.
Anh nói đến lúc ấy mới thật sự hiểu đứa trẻ đó từng được tôi mong chờ thế nào.
Anh nói mình đã bắt đầu gặp chuyên gia tâm lý.
Anh nói cuối cùng cũng nhận ra từ nhỏ bản thân đã quen bảo vệ em gái theo yêu cầu của mẹ.
Anh nhầm lẫn giữa trách nhiệm và dung túng.
Anh biến sự hy sinh của vợ thành điều đương nhiên.
Anh không xin tôi quay lại.
Chỉ mong tôi tha thứ.
Tôi đọc xong.
Sau đó gấp lá thư lại.
Tôi không trả lời.
Có những lời xin lỗi có thể giúp người nói nhẹ lòng.
Nhưng người từng bị tổn thương không có nghĩa vụ phải đưa ra sự tha thứ.
Tôi đặt cuốn sổ vào một chiếc hộp gỗ.
Bên trong còn có đôi tất nhỏ năm ấy.
Tôi không còn khóc khi nhìn chúng.
Đứa bé ấy đã từng tới.
Từng được tôi yêu thương.
Như vậy là đủ.
Tôi không muốn dùng phần đời còn lại để ghi nhớ khoảnh khắc mất đi.
Tôi muốn nhớ rằng mình đã sống sót.
Đã tự bước ra khỏi căn nhà ấy.
Đã xây dựng lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng.
Buổi chiều, studio tổ chức cuộc họp.
Một cô gái trẻ vừa tốt nghiệp trình bày phương án thiết kế.
Cô ấy căng thẳng đến mức liên tục nói nhầm.
Sau buổi họp, cô ấy tìm tôi.
“Giám đốc Hạ, có phải em không phù hợp với nghề này không?”
Tôi nhìn bản vẽ của cô ấy.
Nét vẽ còn non.
Nhưng ý tưởng rất tốt.
Tôi nói:
“Không ai vừa bắt đầu đã hoàn hảo.”
“Điều đáng sợ không phải là làm chưa tốt.”
“Mà là vì người khác phủ nhận nên từ bỏ quyền lựa chọn của mình.”
Cô ấy gật đầu.
Ánh mắt dần sáng lên.
Tôi nhìn cô ấy, giống như nhìn thấy bản thân nhiều năm trước.
Khi ấy, tôi cũng từng mong có ai đó nói với mình rằng tôi không cần phải nhẫn nhịn để chứng minh mình là người tốt.
Rộng lượng không có nghĩa là cho phép người khác giẫm lên giới hạn.
Hôn nhân không có nghĩa là từ bỏ quyền làm chủ cuộc sống.
Gia đình càng không phải cái cớ để một người liên tục hy sinh còn những người khác chỉ biết hưởng thụ.
19
Vào sinh nhật ba mươi lăm tuổi, tôi tự tặng mình một chuyến đi dài.
Tôi tắt điện thoại công việc.
Một mình tới một thị trấn ven biển.
Buổi sáng ngắm mặt trời mọc.
Buổi chiều ngồi vẽ trong quán cà phê.
Tối trở về căn phòng nhỏ nhìn ra biển.
Chủ nhà nghỉ là một bà cụ ngoài sáu mươi.
Bà hỏi tôi:
“Cô đi một mình không sợ buồn sao?”
Tôi cười.
“Không ạ.”
“Ở một mình và cô đơn không giống nhau.”
Bà cụ gật gù.
“Đúng.”
“Có người sống giữa một căn nhà đầy người vẫn cô đơn.”
Tôi nhìn mặt biển bên ngoài cửa sổ.