Một vết sẹo dài chạy chéo qua cẳng tay trái. Vết sẹo đã cũ, màu trắng mờ trên nền da nâu, nhưng nhìn qua cũng biết ngày trước hẳn đã bị thương không nhẹ.

“Vết sẹo này dài thế, chắc lâu rồi phải không anh?”

Tôi buột miệng hỏi.

Anh cúi xuống nhìn cánh tay mình, giọng nhẹ tênh:

“Đi cứu hộ lũ, lâu rồi.

Bị tôn cứa.”

Tim tôi bỗng khựng lại nửa nhịp.

Không hiểu vì sao.

Chuyện xảy ra vào tối thứ ba tuần sau mới thật sự khiến tôi không còn đường chối cãi.

Hôm ấy, tôi tăng ca đến muộn. Con ngõ dẫn vào khu trọ tối om vì bóng đèn đầu ngõ, cái bóng đèn duy nhất anh chưa kịp thay, đã cháy từ bao giờ.

Tôi vừa bước vào ngõ thì một gã say rượu bất ngờ chặn ngang đường, lè nhè đòi làm quen. Hơi rượu nồng nặc phả thẳng vào mặt khiến tôi khó chịu, theo bản năng lùi lại phía sau.

Tim tôi đập thình thịch. Bàn tay siết chặt chiếc móc khóa, ngón cái vô thức miết lên chiếc cúc áo xanh cũ như một phản xạ đã hình thành từ nỗi sợ hãi thuở nhỏ.

Tôi đang loay hoay tìm cách thoát thân thì một bàn tay bất ngờ xuất hiện từ phía sau, nhấc bổng gã say ra khỏi đường.

Đúng nghĩa đen là nhấc lên, nhẹ nhàng như nhấc một bao gạo.

“Về nhà ngủ.”

Giọng Kiên đều đều, chẳng hề lớn tiếng.

Thế mà gã say lập tức tỉnh rượu quá nửa, lắp bắp xin lỗi rồi ba chân bốn cẳng chuồn mất.

Toàn bộ sự việc chỉ diễn ra trong ba giây.

Kiên quay sang nhìn tôi, giọng nói lập tức dịu xuống. Anh đưa chiếc túi giữ nhiệt cho tôi.

“Nghe em nhắn phải tăng ca, anh mua súp.

Còn nóng.”

Tôi ôm túi súp, ngơ ngác nhìn anh rồi hỏi một câu chẳng liên quan:

“Sao anh lại ở đây?”

“Đứng chờ.”

Anh đáp như thể đó là chuyện hiển nhiên nhất trên đời.

“Ngõ tối, em về một mình, anh không yên tâm.”

Gió đêm thổi qua con ngõ nhỏ.

Còn mặt tôi thì nóng ran.

Đến chủ nhật, tôi lại chứng kiến một cảnh tượng có thể xem là lịch sử.

Thằng Bo, con nhà hàng xóm, vấp ngã ngay trước sân, khóc đến long trời lở đất. Mẹ nó dỗ mãi mà chẳng nín.

Khi ấy, Kiên đang sửa xe đạp giúp nhà bên cạnh. Nghe tiếng khóc, anh đặt tua vít xuống, bước tới rồi ngồi xổm trước mặt thằng bé, ngang tầm mắt nó.

Anh móc túi áo, lấy ra một viên kẹo gừng bọc giấy màu vàng cam. Viên kẹo đã được bóc sẵn, anh nhẹ nhàng đưa cho thằng bé.

“Đừng khóc.

Ăn kẹo là hết sợ. Có chú đây rồi.”

Thằng Bo lập tức nín bặt, ngoan ngoãn ngậm kẹo. Đôi mắt vẫn còn ngân ngấn nước, nhưng chẳng mấy chốc đã toe toét cười.

Còn tôi đứng phía sau lưng anh, bỗng cảm thấy mặt đất dưới chân như chao đi một nhịp.

“Đừng khóc.

Ăn kẹo là hết sợ. Có chú đây rồi.”

Câu nói ấy…

Tôi đã nghe ở đâu rồi.

Không phải chỉ nghe bằng tai, mà giống như từng cảm nhận nó bằng cả cơ thể, trong tiếng mưa trút xuống dữ dội, trong mùi nước lũ đục ngầu, giữa nỗi sợ hãi mà tôi tưởng mình đã quên từ rất lâu.

Đêm ấy, tôi mơ.

Trong mơ, nước lũ đỏ ngầu dâng lên, mấp mé mái ngói. Tôi lại trở thành đứa trẻ bé xíu năm nào, ngồi co ro trong bộ quần áo ướt sũng, hai bàn tay nắm chặt một vật gì đó nhỏ xíu, cứng cứng, tròn tròn.

Tôi giật mình tỉnh giấc lúc ba giờ sáng.

Tim đập như trống trận, tôi bật đèn, ngồi thẫn thờ nhìn chiếc cúc áo xanh trên móc khóa đặt ở đầu giường.

Ngoài trời, gió mùa đang về.

Còn ở một đơn vị cách đó mười tám cây số, có lẽ vẫn có người đang xem bản tin dự báo thời tiết trước khi ngủ, để sáng mai đúng sáu giờ lại nhắn cho tôi một tin như mọi ngày.

Người tính không bằng dì tính.

Bữa cơm chủ nhật ở nhà ông ngoại vốn chỉ là dịp để mẹ tôi giới thiệu sơ qua về Kiên với gia đình, vậy mà cuối cùng lại bị dì Loan biến thành một trận địa phục kích.

Dì Loan đến từ rất sớm, tay xách nách mang đủ thứ, và quan trọng nhất là dắt theo một anh chàng lạ hoắc. Người này sơ vin bóng bẩy, đeo chiếc đồng hồ to như cái nắp cống, nụ cười trắng lóa cả mắt.

“Đây là Đăng, con chị bạn thân của dì.

Du học Úc về, giờ đang điều hành công ty gia đình. Mới hai mươi sáu tuổi thôi, bằng tuổi bọn trẻ chúng mày đấy!”

Dì cố tình nhấn mạnh ba chữ cuối, ánh mắt còn liếc về phía mẹ tôi đầy ẩn ý.

Tôi hiểu ngay. Đây chính là phương án thay thế mà dì đã chuẩn bị sẵn cho tôi.

Đăng chẳng cần ai mời đã tự nhiên ngồi xuống bên cạnh tôi, bắt đầu thao thao bất tuyệt về Sydney, chiếc xe mới nhập và cả chuyện “thị trường bây giờ, em phải nhanh mới kiếm được tiền”.

Tôi chỉ biết ậm ừ cho qua chuyện, thỉnh thoảng gật đầu lấy lệ, trong lòng chỉ mong bữa cơm mau chóng bắt đầu để còn kết thúc.

Đúng mười một giờ kém năm phút, sớm hơn giờ hẹn năm phút, thiếu tá Phạm Trung Kiên xuất hiện. Vẫn chiếc sơ mi trắng quen thuộc, tay trái xách túi chè xanh cùng cân cam quê ai đó gửi biếu, tay phải cầm một hộp thuốc bổ khớp.

Anh bước vào nhà, lễ phép chào từng người:

“Cháu chào ông, chào các bác, các chị ạ.”

Sau đó, anh đặt hộp thuốc trước mặt ông ngoại, giọng nói chân thành:

“Cháu nghe mẹ An nói đầu gối ông hay đau khi trở trời.

Loại này quân y đơn vị cháu thường dùng cho các bác cựu chiến binh, ông dùng thử xem có đỡ không ạ.”

Ông ngoại chỉ hừm một tiếng, chưa nói gì, nhưng bàn tay đã cầm hộp thuốc lên đọc kỹ.

Dì Loan lập tức vào đề, chẳng buồn vòng vo:

Truyện Mới

Mẹ chồng từ quê gửi lên hai giỏ vải.

Mẹ chồng từ quê gửi lên hai giỏ vải.

Chị gái thi đại học được 748 điểm

Chị gái thi đại học được 748 điểm

Tần Mặc quay phắt lại

Tần Mặc quay phắt lại

Chiếc Đồng Hồ May Mắn

Chiếc Đồng Hồ May Mắn

Sinh Nhật Cuối Cùng Bên Anh

Sinh Nhật Cuối Cùng Bên Anh

Cái Giá Của Sa Thải

Cái Giá Của Sa Thải

Tình Thân Là Màn Kịch

Tình Thân Là Màn Kịch

Gặp Chồng Tại Linh Đường

Gặp Chồng Tại Linh Đường

Chồng Chê Tôi Nói Nhiều

Chồng Chê Tôi Nói Nhiều

Bố Của Con Người Ta

Bố Của Con Người Ta

Nàng dâu chấn chỉnh gia phong

Nàng dâu chấn chỉnh gia phong

Theo Đuổi Vợ Về Quê

Theo Đuổi Vợ Về Quê