“Hy vọng” là giống có lông
(thơ Emily Dickinson – bản dịch của Lê Dọn Bàn)
“Hope” is the thing with feathers
(thơ Emily Dickinson)
(1)
(1) từ gốc là tô son trát phấn (油头粉面), khi miêu tả nữ thì có ý khen là trang điểm xinh đẹp quyến rũ, còn miêu tả nam là ý chê ăn mặc quá loè loẹt, đỏm đáng.
(2)
(2) bộ mặt nhăn nhó (挤眉弄眼 – tề mi lộng nhãn): QT hay để là “làm mặt quỷ”, nhưng nghĩa cụm từ này thường là về các biểu cảm với đôi mắt và lông mày như: nháy mắt, đưa mắt nhìn nhau, nhíu mắt nhíu mày, mặt nhăn mày nhó…
Chu Nhị Đình đã có người yêu rồi
ánh mắt tôi nhìn cô ấy không đúng lắm, cứ như chủ nhiệm lớp cấp ba đang dò xét học trò vậy.
có người phụ nữ kì lạ theo dõi em hằng ngày, mà chị cũng thấy được.
buổi văn nghệ cho ngày Tết Thiếu nhi sắp tới rồi, tôi quá hồi hộp, lo lắng đến mức không còn kiểm soát được biểu cảm của mình.
Gửi cho tôi mấy tấm ảnh trong điện thoại cô đi.
Của Ninh Ninh đó.
được.
Em có một
ước mơ tươi đẹp ~ là mai sau lớn lên… (3)
(3) Đây là câu mở đầu của bài hát “Gieo mặt trời” đã đề cập ở chương 3.